SKYPEC - A brand of trust !
booktour.vn

ĐỔI MỚI PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ MỚI - NHẬN DIỆN THỰC TIỄN, BẢO VỆ LỊCH SỬ VÀ ĐỊNH HƯỚNG TƯ TƯỞNG

       Kể từ khi thành lập (ngày 03/02/1930) cho đến nay, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của Cách mạng Việt Nam. Trải qua 96 năm xây dựng và phát triển, Đảng ta không chỉ có đường lối đúng đắn, mà liên tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền để xây dựng đất nước phù hợp với từng giai đoạn lịch sử và yêu cầu phát triển mới. 



       Từ ngày thành lập (03/2/1930) cho đến Cách mạng Tháng Tám năm 1945, mục tiêu cốt lõi của Đảng là tập hợp quần chúng, xây dựng đường lối, đào tạo cán bộ, và thống nhất hành động cách mạng trong điều kiện bị thực dân đàn áp. Phương thức lãnh đạo của Đảng giai đoạn này là tập trung vào tuyên truyền Chủ nghĩa Mác-Lênin; truyền bá đường lối cách mạng và tư tưởng Hồ Chí Minh vào phong trào yêu nước, phong trào công nhân nhằm tập hợp lực lượng rộng rãi để vượt qua tình trạng phân tán lực lượng, đặt nền móng cho phương pháp lãnh đạo dựa trên dân chủ tập trung, kết hợp tư tưởng và tổ chức với thống nhất hành động, trong đó Đảng giữ vai trò hoạch định chiến lược, định hướng phong trào quần chúng.

       Giai đoạn từ năm 1945 đến 1975, Đảng lãnh đạo Nhà nước non trẻ kháng chiến chống thực dân Pháp, sau đó là cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước. Đảng lãnh đạo toàn diện các mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao; kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang; thực hiện phong trào thi đua yêu nước, huy động mọi nguồn lực toàn dân để làm nên chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, trấn động địa cầu” và Tổng tiến công Mùa Xuân 1975 thống nhất đất nước. Phương thức lãnh đạo của Đảng ở giai đoạn này là nhấn mạnh sự linh hoạt trong chỉ đạo chiến lược, kết hợp chặt chẽ giữa Trung ương và địa phương, giữa lãnh đạo tập trung và phát huy tự chủ, thực tiễn của lực lượng tại chỗ.

       Giai đoạn từ 1975 đến 1986, Đảng lãnh đạo xây dựng kinh tế – xã hội mới với những khó khăn do chiến tranh kéo dài gây ra. Phương thức lãnh đạo trong giai đoạn này đặt trọng tâm vào hoạch định kế hoạch, triển khai các chính sách phát triển kinh tế – xã hội theo mô hình tập trung; công tác tổ chức, cán bộ; đẩy mạnh tuyên truyền tạo khối đoàn kết toàn dân. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy mô hình này có nhiều bất cập, dẫn đến nhiều khó khăn trong sản xuất và đời sống, đặt ra yêu cầu phải đổi mới. 

       Từ Đại hội VI (1986), đường lối đổi mới của Đảng mang tính bước ngoặt trong công tác lãnh đạo và công cuộc phát triển đất nước. Phương thức lãnh đạo của Đảng chuyển từ quản lý kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; phát triển kinh tế tư nhân, mở cửa hội nhập quốc tế. Tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước, chuyển mạnh từ “định hướng chính sách” sang lãnh đạo bằng việc triển khai thực thi và liên tục điều chỉnh chính sách. Đây không chỉ là điều chỉnh đường lối, mà còn là đổi mới cách Đảng chỉ đạo các cơ quan Nhà nước và hệ thống chính trị trong từng lĩnh vực.

       Thực hiện quyết sách chiến lược của Đảng, từ ngày 01/7/2025 đến nay hệ thống chính trị nước ta vận hành theo mô hình chính quyền 3 cấp (Trung ương, tỉnh/thành, xã/phường). Phương thức lãnh đạo của Đảng tiếp tục vận hành thống nhất theo cơ chế: (1) Đảng lãnh đạo, điều hành chiến lược và chính sách chung (2) Nhà nước thực thi pháp luật, quản lý hành chính (3) Nhân dân và Mặt trận Tổ quốc cùng các tổ chức chính trị – xã hội giám sát, phản biện nhưng được đổi mới mạnh mẽ, thể hiện như sau:
       Một là, tiếp tục hiện thực hóa nguyên tắc “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” 
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định rõ Đảng là lực lượng cầm quyền duy nhất, và nguyên tắc này cũng được thể hiện cả trong Điều lệ Đảng, được nhân dân thừa nhận là đúng đắn, phù hợp với nguyện vọng độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc của xã hội Việt Nam. Ở trung ương, Đảng xác định các mục tiêu chiến lược quốc gia, đường lối phát triển kinh tế – xã hội, chính sách đối ngoại, quốc phòng, an ninh. Ở cấp đảng bộ tỉnh/thành cụ thể hóa đường lối đó thành nghị quyết, chương trình hành động và phân công các sở, ban, ngành thi hành. Ở cấp xã/phường, đảng bộ cơ sở lãnh đạo triển khai chính sách tới người dân; giám sát việc thực thi pháp luật, tiếp nhận phản ánh và điều chỉnh cho phù hợp với hoàn cảnh thực tế. Trong mô hình này, sự lãnh đạo của Đảng không phải là can thiệp trực tiếp vào công việc hành chính của Nhà nước, mà là hoạch định chiến lược; kiểm tra, giám sát và đánh giá hiệu quả thực hiện; đồng thời Đảng kết nối với nhân dân thông qua các tổ chức chính trị – xã hội để bảo đảm tính đại chúng của chính sách. 
       Hai là, ưu tiên cao cho việc kết hợp đổi mới phương thức lãnh đạo với xây dựng, chỉnh đốn Đảng, kiểm soát quyền lực và chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí
Củng cố nguyên tắc tập trung dân chủ, gắn với phân cấp, phân quyền phù hợp, nêu cao trách nhiệm cá nhân, nhất là người đứng đầu các cấp. Đổi mới công tác xây dựng và ban hành văn bản của Đảng đảm bảo rõ ràng, dễ hiểu, dễ thực thi. Đẩy mạnh kiểm tra, giám sát, và phản biện xã hội để phát hiện, chỉnh sửa sai sót, nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình; kết hợp đổi mới phương thức lãnh đạo với xây dựng, chỉnh đốn Đảng, kiểm soát quyền lực và chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí - những vấn đề trọng yếu ảnh hưởng trực tiếp đến niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, cụ thể là:
Ở cấp Trung ương tập trung giám sát việc thể chế hóa chủ trương của Đảng thành pháp luật; kiểm tra việc thực hiện các nghị quyết lớn, chiến lược dài hạn; đổi mới đánh giá trách nhiệm tập thể và cá nhân trong lãnh đạo, quản lý, tạo chuẩn mực cho toàn hệ thống. 
Ở cấp tỉnh tập trung vào vệc phân cấp, phân quyền đi đôi với kiểm tra, giám sát và kiểm soát quyền lực; hiệu quả điều hành của chính quyền địa phương; trách nhiệm người đứng đầu trong giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của dân. 
Ở cấp xã là nơi gần dân, sát dân nên việc giám sát và phản biện xã hội có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bao gồm: Giám sát thực hiện chính sách an sinh, đất đai; chủ động giải quyết thủ tục hành chính; phát huy vai trò Ban Thanh tra nhân dân, Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng; kịp thời phát hiện, khắc phục tình trạng quan liêu, nhũng nhiễu, xa dân. 
      Ba là, phương thức lãnh đạo của Đảng được cụ thể hóa và áp dụng trong từng cấp chính quyền từ Trung ương đến cấp tỉnh và cấp xã
Đảng lãnh đạo nhưng không “đi vào từng nội dung hành chính nhỏ hẹp”, mà tập trung vào việc định hướng, giám sát và đánh giá hiệu quả cuối cùng của chính quyền và hệ thống chính trị, cụ thể là: 
Cấp Trung ương, Đảng lãnh đạo bằng cách hoạch định chiến lược phát triển, định hướng chính sách và dự báo những thách thức toàn cầu để xây dựng các kế hoạch dài hạn về kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh, đối ngoại, chuyển đổi số, xây dựng chính quyền số v.v. trong giai đoạn mới.
Cấp tỉnh/thành, đảng bộ, chính quyền tổ chức quán triệt, cụ thể hóa đường lối của Trung ương phù hợp với bối cảnh của địa phương, đảm bảo tính thống nhất và linh hoạt trong tổ chức thực hiện; ủy quyền cho các sở, ngành phát huy đổi mới, sáng tạo, đồng thời duy trì sự kiểm tra, giám sát để bảo đảm thực thi mục tiêu chung.
Ở xã/phường, đảng bộ cơ sở lãnh đạo, tổ chức các hoạt động giám sát việc thực thi pháp luật, tiếp nhận phản ánh của dân; lãnh đạo, chỉ đạo chính quyền xã/phường thực hiện các chương trình phát triển kinh tế – xã hội, cải cách hành chính, và thực hiện các chính sách an sinh xã hội.
       Bốn là, tăng cường đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc phương thức lãnh đạo của Đảng
Trên không gian mạng và một số diễn đàn tiếp tục có những luận điệu xuyên tạc, cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam là “độc quyền quyền lực để kiểm soát xã hội theo mô hình độc tài,” “đe dọa quyền tự do cá nhân,” hoặc “hệ thống chính trị 3 cấp là công cụ đàn áp.” Một số luận điệu cực đoan còn so sánh nền chính trị Việt Nam với các thể chế quân chủ thân hữu, độc tài, cho rằng “Đảng kiểm soát mọi khía cạnh đời sống chính trị - xã hội như thời phong kiến”. Những luận điệu này là sai lệch hoàn toàn, không phản ánh thực tế và thiếu cơ sở pháp lý, lịch sử và xã hội. Bằng luận cứ khoa học và thực tiễn Cách mạng Việt Nam, chúng ta khẳng định đây không phải là vấn đề “độc tài cá nhân”, “lãnh đạo áp đặt”, hay “cai trị toàn diện theo kiểu chuyên chế”, mà là thể chế chính trị được lựa chọn phù hợp với bối cảnh lịch sử, truyền thống dân tộc và đường lối phát triển phù hợp với điều kiện Việt Nam. Bởi lẽ, Hiến pháp Việt Nam khẳng định quyền con người, quyền dân chủ của công dân trong khuôn khổ pháp luật là cao nhất. Quy chế lãnh đạo của Đảng và trách nhiệm giải trình được quy định rõ trong Điều lệ Đảng và hệ thống pháp luật; đồng thời luôn chịu sự giám sát của quần chúng nhân dân thông qua các tổ chức đại diện. Đảng không can thiệp trái pháp luật vào hoạt động nội bộ lập pháp, hành pháp và tư pháp ở từng cấp, mà lãnh đạo thông qua chủ trương, kiểm tra, giám sát, đánh giá và phản hồi. Vì vậy, những luận điệu trên thực chất là phủ nhận vai trò lịch sử và thực tiễn của Đảng, thiếu hiểu biết về nguyên tắc tập trung dân chủ và sự phát triển của thể chế chính trị ở Việt Nam.

Đồng chí Tạ Mạnh Hùng - Phó Bí thư thường trực Đảng ủy TCT HKVN phát biểu chỉ đạo Đại hội.

       Quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong tình hình mới, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Công ty TNHH một thành viên Nhiên liệu Hàng không Việt Nam (Skypec) lần thứ IX, nhiệm kỳ 2025 – 2030 nêu rõ: “Đổi mới việc xây dựng, ban hành nghị quyết lãnh đạo vừa có tính định hướng cao, vừa cụ thể, sát thực tiễn, dễ nhớ, dễ triển khai thực hiện. Xây dựng đội ngũ cấp ủy và bí thư cấp ủy các cấp nắm vững và tuân thủ nguyên tắc của Đảng; có phong cách lãnh đạo dân chủ, lề lối làm việc khoa học, sâu sát, cụ thể; đề cao trách nhiệm cá nhân; nêu cao tính tiền phong, gương mẫu và là hạt nhân lãnh đạo, hạt nhân đoàn kết của Đảng trong cơ quan, đơn vị. Chú trọng nâng cao chất lượng tham mưu ban hành văn bản của các cơ quan giúp việc của cấp ủy theo hướng kịp thời, đồng bộ, thống nhất, toàn diện nhưng có trọng tâm, trọng điểm, bám sát thực tiễn và có tính dự báo cao. Nâng cao chất lượng học tập, quán triệt, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước và các quy chế, quy định theo hướng mở rộng đối tượng tham gia; hình thức linh hoạt, phù hợp, phát huy tối đa hiệu quả phương tiện truyền thông, tăng cường hội nghị chuyên đề. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số vào công tác tuyên truyền, thông tin, báo cáo trong Đảng, bảo đảm nhanh chóng, chính xác, kịp thời.

       Tóm lại, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ là yêu cầu của lịch sử mà còn là điều kiện tiên quyết để nâng cao năng lực lãnh đạo, tính thích ứng trong bối cảnh quốc tế đầy biến động. Hiện nay, Đảng ta đã và đang không ngừng đổi mới phương thức lãnh đạo nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Sự lãnh đạo đó không phải là tư duy áp đặt, mà là lãnh đạo vì lợi ích Nhân dân, vì mục tiêu “quốc gia phồn vinh, dân tộc hạnh phúc”.

-----------------------------------
Bài và ảnh: Đỗ Minh Điền – Phó ban Tuyên giáo Đảng ủy